Nếu đã có quyết định liên quan đến kê biên tài sản mà bị can, bị cáo vẫn thực hiện các giao dịch chuyển nhượng đối với tài sản bị kê biên thì có dấu hiệu tẩu tán tài sản

TAND quận Phú Nhuận (TP.HCM) vừa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Trần Hoàng Phong (32 tuổi, ngụ quận Gò Vấp) 7 năm 6 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Ngoài mức án trên, TAND quận Phú Nhuận còn tuyên buộc bị cáo Phong phải bồi thường cho gia đình ông Lê Mạnh Thường (tài xế Grab Bike) 477 triệu đồng, bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bích Hường (nữ tiếp viên của hãng hàng không Vietnam Airlines) 1,434 tỉ đồng.

Đây là trách nhiệm dân sự mà bị cáo Phong phải chịu khi có hành vi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người khác.

Luật sư nói gì về việc bị can giao dịch chuyển nhượng tài sản khi bị tạm giam?

Bị cáo Nguyễn Trần Hoàng Phong tại tòa (ảnh: Lê Phong).

Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường, theo quy định tại khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, xe do bị cáo Phong thuê để tự lái, có xác lập hợp đồng với bên cho thuê nên trách nhiệm bồi thường vẫn thuộc bị cáo. Về mức bồi thường cụ thể cần căn cứ vào thiệt hại, tổn thất thực tế đã xảy ra (có chứng từ, giấy tờ chứng minh) và/hoặc yêu cầu của bị hại.

Đối với vấn đề trong thời gian chờ tòa án xét xử, Phong đã ký công chứng chuyển nhượng nhà chung cư mua trả góp chung với mẹ cho người mẹ nên giờ không còn tài sản nào khác để chịu trách nhiệm với bị hại.

Thứ nhất, về mặt thủ tục và hình thức, giao dịch chuyển nhượng này là hoàn toàn hợp pháp. Phong là chủ sở hữu của căn chung cư, do đó hoàn toàn có quyền thực hiện các giao dịch đối với tài sản của mình. Quyền về tài sản trong trường hợp này không bị hạn chế dù chủ sở hữu đang bị tạm giam. Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản phải công chứng chứng thực theo quy định pháp luật. Theo Điều 44 Luật Công chứng, trường hợp Phong đang bị tạm giam, nếu có yêu cầu công chứng, việc công chứng có thể diễn ra tại trại giam. Do đó, việc công chứng viên vào trại công chứng là bình thường.

Luật sư nói gì về việc bị can giao dịch chuyển nhượng tài sản khi bị tạm giam?

Nữ tiếp viên hàng không, nạn nhân trong vụ tai nạn do bị cáo Nguyễn Trần Hoàng Phong gây ra (ảnh: Lê Phong).

Thứ hai, đối tượng của giao dịch là căn chung cư mà Phong và mẹ mua trả góp. Nếu kiểm tra trên hệ thống, liên kết mạng, tài sản công chứng chuyển nhượng không bị ngăn chặn chuyển dịch, không bị kê biên thì theo quy định, việc công chứng là bình thường.

Thứ ba, theo nguyên tắc suy đoán vô tội, một người được coi là không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực của tòa án kết tội đối với người đó. Bên cạnh đó, nghĩa vụ dân sự (nếu có), cụ thể là nghĩa vụ bồi thường cũng chỉ phát sinh sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Do đó, công chứng viên không có nghĩa vụ phải biết bị can “có khả năng” phải bồi thường thiệt hại cho bị hại để từ chối công chứng hợp đồng chuyển nhượng nêu trên.

Trường hợp này, người có quyền hạn và nghĩa vụ xem xét tính hợp pháp của giao dịch nêu trên là điều tra viên. Theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền ra lệnh kê biên tài sản áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.

Nếu xét thấy bị can, bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại, người có thẩm quyền bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND, Chánh án, Phó Chánh án TAND, HĐXX, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Như vậy, khi phát sinh sự việc bị can muốn thực hiện giao dịch dân sự tại trại giam có sự tham gia của công chứng viên thì phải được sự cho phép và giám sát của điều tra viên và cán bộ tại trại giam. Do vậy, khi nhận thấy sự bất thường đối với mục đích của giao dịch này, điều tra viên cần báo cáo cho người có thẩm quyền để ra lệnh kê biên nếu xét thấy cần thiết. Trường hợp các cơ quan này đã ban hành quyết định liên quan đến kê biên tài sản đối với bị can, bị cáo mà bị can, bị cáo vẫn thực hiện các giao dịch chuyển nhượng đối với tài sản bị kê biên thì mới là hành vi trái pháp luật (có dấu hiệu tẩu tán tài sản).

Thứ tư, cần phải rạch ròi giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án hình sự. Trường hợp bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại trước khi phiên tòa diễn ra, bị cáo sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét, tùy thuộc vào mức độ mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, nếu không tự nguyện bồi thường thiệt hại thì cũng sẽ không tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đối với nghĩa vụ dân sự trong vụ án hình sự, nếu HĐXX tuyên bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại thì bị cáo phải thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, không phụ thuộc vào việc bị cáo có còn tài sản hay không. Nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ dân sự trong vụ án hình sự, thì sẽ tự hạn chế các quyền của mình như: không thể xét tha tù trước thời hạn, không thể thực hiện thủ tục xóa án tích.

Nguồn: https://nld.com.vn/phap-luat/luat-su-noi-gi-ve-viec-bi-can-giao-dich-chuyen-nhuong-tai-san-khi-bi-tam-giam-20201217092020573.htm

Click VÀO ĐÂY để cập nhật thông tin mới nhất về dịch bệnh COVID-19!