Dân trí

Gần đây, xét nghiệm nồng độ pepsinogen huyết thanh và tỷ lệ pepsinogen I/II là một giải pháp sàng lọc không xâm lấn được sử dụng để đánh giá nguy cơ và phát hiện sớm ung thư dạ dày ở người có nguy cơ.

Ung thư dạ dày là một trong 5 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Theo báo cáo thường niên GLOBOCAN 2018 của Cơ quan Nghiên cứu ung thư Quốc tế (IARC), ước tính có khoảng gần 1 triệu trường hợp ung thư dạ dày mới được chẩn đoán, có khoảng 783000 ca tử vong.

Tỷ lệ tử vong ước tính cao nhất ở Châu Á và Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao trong khu vực. Năm 2018, tại Việt Nam có khoảng 17527 ca mới được chẩn đoán mắc ung thư dạ dày, tỷ lệ tử vong chiếm 13,1% (là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 sau ung thư phổi, gan).

Pepsinogen-giải pháp sàng lọc ung thư dạ dày không xâm lấn
Ngày nay, nhiều xét nghiệm không xâm lấn như xét nghiệm các marker ung thư CEA, CA 19-9, CA72-4, xét nghiệm phát hiện gen gây ung thư dạ dày, CT scan, nội soi dạ dày đang được dùng chẩn đoán ung thư dạ dày. Tuy vậy, các bệnh nhân mắc ung thư dạ dày ở Việt Nam đa phần được chẩn đoán mắc bệnh ở giai đoạn muộn, ảnh hưởng đến kết quả điều trị và tiên lượng bệnh thường xấu.

Gần đây, xét nghiệm nồng độ pepsinogen huyết thanh và tỷ lệ pepsinogen I/II là một giải pháp sàng lọc không xâm lấn được sử dụng để đánh giá nguy cơ và phát hiện sớm ung thư dạ dày ở bệnh nhân có nguy cơ.

Pepsinogen (PG) là tiền enzyme (proenzyme) của pepsin – một enzyme thủy phân protein – được bài tiết bởi các tế bào niêm mạc của dạ dày. Pepsinogen là một protein gồm 375 gốc acid amin, có khối lượng phân tử 42 kDa. Pepsinogen được tồn tại dưới hai dạng: pepsinogen I (PG I) và pepsinogen II (PG II). Pepsinogen I được tổng hợp bởi các tế bào chính của niêm mạc ở vùng đáy dạ dày, trong khi PG II được tổng hợp bởi các tế bào niêm mạc của tất cả các vùng tâm vị, vùng đáy, vùng hang vị và của hành tá tràng.

Pepsinogen không chỉ được tiết vào trong lòng dạ dày, được thủy phân thành pepsin nhờ tác dụng hoạt hóa của acid chlohydric của dạ dày để thủy phân protein thức ăn, mà một phần nhỏ còn được bài tiết vào máu.

Mức độ của hai loại pepsinogen I và II huyết thanh phản ánh tình trạng hình thái và chức năng của các phần khác nhau của niêm mạc dạ dày-hành tá tràng. Khi hoạt động của niêm mạc vùng đáy dạ dày bị giảm, mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm, trái lại mức độ PGII huyết thanh không thay đổi. Kết quả là sự giảm dần của tỷ số PGI/PGII liên quan chặt chẽ với sự tiến triển tăng dần từ niêm mạc vùng đáy bình thường thành viêm teo dạ dày, lúc này số lượng tế bào chính giảm đi.

Trong bệnh ung thư dạ dày, người ta đã xác định được quá trình tổn thương về tế bào bệnh học diễn biến theo thứ tự sau: viêm dạ dày mạn (chronic gastritis), viêm teo dạ dày mạn (atrophic chronic gastritis), dị sản (metaplasia) và loạn sản (dysplasia). Đối với ung thư dạ dày (gastric cancer hoặc gastric adenocarcinogen), khối u thường phát triển ở niêm mạc dạ dày do tác động của viêm teo dạ dày mạn tính. Vì vậy, việc định lượng các pepsinogen huyết thanh có thể được xem như một “sinh thiết huyết thanh” (serological biopsy), cho phép phát hiện sớm các bệnh nhân ung thư dạ dày.

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, trong một thời gian dài với nhiều nghìn bệnh nhân ung thư dạ dày đã cho thấy mức độ pepsinogen I huyết thanh của bệnh nhân ung thư dạ dày giảm một cách có ý nghĩa rõ rệt, trong khi hầu như không có sự thay đổi có ý nghĩa của mức độ pepsinogen II huyết thanh ở bệnh nhân ung thư dạ dày so với ở người bình thường. Vì vậy, tỷ lệ PGI/II ở bệnh nhân ung thư dạ dày cũng giảm một cách có ý nghĩa so với các giá trị này ở người bình thường.

Đối với mức độ nặng của ung thư dạ dày, các giá trị pepsinogen I và tỷ lệ PGI/II giảm nhiều hơn một cách có ý nghĩa ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển so với ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Do đó, việc sử dụng kết hợp mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp chẩn đoán sớm ung thư dạ dày.

Mặc dù các dấu hiệu của ung thư dạ dày rất mơ hồ, dễ nhầm lẫn với các biểu hiện của các bệnh lý dạ dày khác. Xét nghiệm pepsinogen nên được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng như: mệt mỏi, ăn không ngon, khó tiêu dai dẳng, ợ hơi, cảm thấy no rất nhanh khi ăn, đầy hơi sau khi ăn, đau vùng thượng vị, nôn, đi ngoài phân đen hoặc xuất hiện có máu trong phân, giảm cân, thiếu máu…

Giá trị bình thường của mức độ pepsinogen I huyết thanh ở những người khỏe mạnh bình thường được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới là > 70 ng/mL, của pepsinogen II là 7,5 ng/mL và của tỷ lệ PGI/II là > 3. Mức độ pepsinogen I, pepsinogen II và tỷ lệ PGI/II không khác nhau theo tuổi và giới.

Mức độ pepsinogen I huyết thanh với giá trị cắt (cut-off) ≤ 70 ng/mL và tỷ lệ PGI/II ≤ 3 được xem là giá trị dương tính đối với các bệnh tiền ung thư và ung thư dạ dày.

Ở bệnh nhân bị viêm teo dạ dày (atrophic gastritis), mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm một cách có ý nghĩa trong khi mức độ pepsinogen II huyết thanh hầu như không thay đổi. Trong viêm teo dạ dày nặng (severe), mức độ pepsinogen I huyết thanh có thể giảm xuống dưới 20 ng/mL, tùy thuộc vào mức độ tổn thương niêm mạc do viêm teo. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh trong sàng lọc ung thư trên bệnh nhân viêm teo niêm mạc dạ dày tương ứng là 77,3% và 73,2%.

Tuy nhiên, một khi xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II dương tính, để khẳng định chẩn đoán ung thư dạ dày, điều cần thiết là cần xét nghiệm thêm một số dấu ấn ung thư dạ dày khác như CA 72-4, CA 19-9, CEA, cũng như nội soi dạ dày tìm khối u và sinh thiết các vị trí nghi ngờ ung thư trên khối u để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học.

ThS. Bác sĩ Đinh Thị Thảo
Khoa Sinh hóa, Trung tâm xét nghiệm, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Tin liên quan

Từ khóa:
  • ung thư

  • ung thư dạ dày

  • dấu hiệu sớm ung thư dạ dày